NGƯỜI RÓT BIỂN VÀO CHAI VỚI NỖI CÔ ĐƠN TUYỆT ĐỈNH - LÊ KHÁNH MAI

By Lê Khánh Mai

    

BIỂN VẮNG 

Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng

xin đừng dối chi chân trời

Anh ngồi im lìm chiếc bóng

chén này mình với biển thôi

 

Một cộng với một thành đôi

Anh  cộng cô đơn thành biển

Nắng tắt mà người không đến

Anh ngồi rót biển vào chai

                   Trịnh Thanh Sơn

(Rút từ “Tuyển tập thơ Việt Nam thế kỷ XX - NXB Giáo dục 2005)

  

          “Biển vắng” là bài thơ nổi tiếng của nhà thơ Trịnh Thanh Sơn. Đó là một bài thơ tình đích thực. Mang tựa đề “Biển vắng” nhưng biển chỉ là phương tiện biểu đạt một cái “cớ” để nhà thơ “vin vào” nhằm chuyển tải tâm trạng ngổn ngang đau khổ của một chàng trai/ người đàn ông đang yêu và đợi chờ người yêu trong nỗi thất vọng cô đơn. Với cảm quan nghệ thuật như thế Trịnh Thanh Sơn đã tự đặt ra cho mình một thách thức bởi các thi sĩ đàn anh đàn chị  từng mượn “nhân vật” biển để chia sẻ nỗi niềm và điều đáng nói là họ đã rất thành công: Xuân Diệu Xuân Quỳnh Hữu Thỉnh… là những ví dụ.

Với “Biển vắng” Trịnh Thanh Sơn chân thành như trút hồn mình. Bài thơ tình của ông không hề là thứ tình thương vay khóc mướn hay tưởng tượng vu vơ. Mỗi hình ảnh ngôn từ ngầm chứa nỗi cô đơn tuyệt đỉnh.

Bài thơ “nhỏ nhắn” với 2 khổ thơ gồm 8 câu lục ngôn – một thể thơ quen thuộc từ vần điệu đến cách sắp xếp các âm tiết đều chuẩn mực không mảy may dấu hiệu cách tân nhưng mang tầm vóc bài thơ của muôn đời.

Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng

Xin đừng dối chi chân trời

Anh ngồi im lìm chiếc bóng

Chén này mình với biển thôi.

Toàn bộ bài thơ chỉ duy nhất câu thơ mở đầu miêu tả ngoại cảnh. Bảy câu thơ còn lại tập trung thể hiện nội tâm của nhân vật trữ tình: Anh – người trong “vai” đợi một người mình yêu.

Ngoại cảnh  “Rơi chiều vàng ngơ ngác sóng” với hai “nét vẽ”  bằng “chất liệu” nắng và sóng mà làm nên cả buổi chiều vàng. Nắng chưa tắt. Nắng hình như kết lại dệt thành những tia sáng rơi xuống chiều nắng như còn lưu luyến và đang vàng hết mình để nhuộm thắm không gian những giây phút cuối ngày. Còn sóng thì “ngơ ngác”; có lẽ chỉ có Trịnh Thanh Sơn mới cảm nhận được cái vẻ non dại thơ ngây đáng thương đến tội nghiệp của sóng. Ngay câu thơ ngoại cảnh này đã hé mở tâm trạng. Vả chăng tình yêu muôn thuở vốn ngơ ngác dại khờ như sóng kia? Nhưng biển tình vẫn đôi khi huyễn hoặc chân trời. Nỗi lo âu mơ hồ về niềm tin đổ vỡ khiến người trong cuộc thốt lên/ hoặc thầm mong: “xin đừng dối chi chân trời”. Đó là nỗi lo âu thường trực của người đang yêu: xáo trộn những cảm xúc khát khao mơ mộng với những dự cảm tỉnh táo trải nghiệm dao động giữa hai bờ hư và thực tin yêu và ngờ vực. Đó cũng là lý do của nỗi cô đơn: “Anh ngồi im lìm chiếc bóng”. Đến cái bóng cũng “không chịu” tách ra thành một người thứ hai để làm bạn với anh nó nhập vào anh làm một hay chính anh cũng biến thành cái bóng buồn tênh lặng lẽ. Không có ai anh đành uống rượu với biển: “Chén này mình với biển thôi”.

Thi nhân cổ điển đối ẩm với trăng hoa tùng cúc mai đã nhiều nhưng nâng chén cùng biển có lẽ  chỉ  riêng Trịnh Thanh Sơn. Khi cô  đơn con người ta tìm đến thiên nhiên như một niềm cứu rỗi.

Biển giờ đây bình đẳng trong tư cách là “bạn  rượu” của nhà thơ. Nhưng biển lớn lao kỳ vĩ đầy bí ẩn dường như không thể vợi được nỗi cô đơn đang đè nặng lên trái tim mỏng mềm dễ tổn thương của một người đang yêu.

“Một cộng với một thành đôi

Anh cộng cô đơn thành biển

Nắng tắt mà người  không đến

Anh ngồi rót biển vào chai”

Phép cộng thứ nhất “một cộng với một thành đôi” – phép  cộng toán học giản  đơn diễn tả trạng thái nguyên sinh của tình  yêu ngây thơ ao ước hy vọng thiên về mộng tưởng. Đến phép cộng thứ hai “Anh cộng cô đơn thành biển” thì mộng tưởng đã tan vỡ. Ý thức  đã xác nhận một thực tại cay đắng: “Nắng tắt mà người không đến”. Không có ai để cộng thành đôi. Anh chỉ có thể  cộng với chính nỗi cô đơn của mình. Phép cộng ấy đã nâng nỗi cô  đơn lớn lên tầm vũ trụ anh cô đơn như biển anh hoá thành biển cả. Khổ đau thất vọng lên đến  đỉnh điểm đã đưa thơ đến trạng thái xuất thần kỳ diệu làm nên câu thơ tuyệt vời thi sĩ : “Anh ngồi rót biển vào chai”. Câu thơ lạ thông minh và độc sáng. Nó phi lý xét về thực tế nhưng nó là chân lý của tình yêu. Khi tình yêu tuyệt vọng chủ thể của nỗi cô đơn phải tự mình mang vác lấy nỗi cô đơn không thể vứt bỏ chia sớt cho ai được. Anh đem cả một biển cô đơn  đầy ắp trong hồn rót vào chai. Nhưng cái chai nhỏ bé kia làm sao mang chứa nổi. Vẫn còn đó nỗi cô đơn. Còn đó bi kịch muôn đời của tình yêu đơn phương.

Antoine Hubert – nhà thơ Canada viết:: “Tình yêu/ là bộ sưu tập những trạng thái cô đơn” (Không đề). Bài thơ “Biển vắng” của Trịnh Thanh Sơn đã đóng góp vào bộ sưu tập đó nỗi cô đơn tuyệt đỉnh của tình yêu.

 

Nguồn Báo Văn nghệ Hội Nhà văn VN số 21 ngày 24 tháng 5 năm 2008

Bài đã đăng trong tập VỌNG ÂM CỦA MẠCH NGẦM - Tiểu luận phê bình của Lê Kháh Mai NXB Hội nhà văn 2008.

 

 

More...

HỎI

By Lê Khánh Mai

HỎI

LÊ KHÁNH MAI

Này sông

về đâu vội vã

bỏ ta đứng lại bên trời

đợi ta hóa thành chiếc lá

theo dòng ra bể rong chơi

Này mây

lững lờ chi mãi

ngàn năm làm kẻ vô tâm

ta sẽ biến thành ngọn núi

níu mây kết nghĩa tri âm

Này gió

hát gì mê mải

vi vu giải yếm tàng hình

nếu ta hóa thân cát bụi

biết là gió có đa mang?

 

More...

Thơ bốn dòng

By Lê Khánh Mai

alt

Lê Khánh Mai trong đêm thơ Nguyên tiêu 2010 tại Nha Trang

THƠ BỐN DÒNG

LÊ KHÁNH MAI

Khát vọng
Trái tim - một tù nhân khốn khổ
đập không nguôi sau cánh cửa vô hình
chết vùi đi hay là thắp lửa
đơn giản vô cùng sao cứ mãi phân vân


Đôi khi
Đôi khi muốn làm ngọn đuốc
cháy lên chạy trốn bóng mình
đôi khi ngùi ngùi nến khóc
lửa thầm nhỏ lệ vào đêm


Đêm biển
Sóng dồn từ đâu muôn kiếp trước
chất lên từng trận đổ ầm ào
đêm ở biển nghe đất trời vỡ nát
nghiêng phía nào cũng cuồn cuộn lo âu


Bờ và sóng
Biển chỉ có một bờ
muôn ngàn con sóng khát
sóng đam mê đâu biết
chạm được bờ...vỡ tan


Đợi mùa
Lửa gần bén rạ rơm khô
gió xa ru mãi hoang vu hồn mình
người còn giữ lửa chung tình
để ta ươm bão ủ xanh đợi mùa?

More...

Là mình

By Lê Khánh Mai

LÀ MÌNH

LÊ KHÁNH MAI

 

Là mình chẳng phải mình đâu

lẫn trong sương khói trong câu thơ buồn

trắng trong củ ấu đáy bùn

thơm tho cây quế tận rừng hút xa

 

Là mình ở giữa người ta

cháy lên ngọn lửa để mà... tàn tro

 

More...

Lưu lạc trên cánh đồng số phận

By Lê Khánh Mai

LƯU LẠC TRÊN CÁNH ĐỒNG SỐ PHẬN

 

(Đọc tiểu thuyết Cánh đồng lưu lạc của Nhà văn Hoàng Đình Quang NXB Hội Nhà văn 2005 Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn VN 2005)

 

LÊ KHÁNH MAI

 

            Đặt tên tiểu thuyết là “Cánh đồng lưu lạc” vừa mang ý nghĩ biểu trưng vừa có tính khái quát cao nhà văn Hoàng Đình Quang đã mở ra một không gian nghệ thuật đặc sắc. Đó là nông thôn với hiện thực bất ổn xê dịch những kiếp người phiêu dạt và khát vọng nhân sinh. Cánh đồng lưu lạc “theo nhiều người già kể lại có lẽ nó được khai phá bởi những người dân lưu lạc tứ xứ kéo đến đây”( trang 12). Lời giải thích lịch sử cánh đồng đã dự báo về những cuộc hành trình nối tiếp nhau đi tìm bản thể. Nền văn minh nông nghiệp Việt Nam tự bao đời vốn ở trạng thái tĩnh ao tù nước đọng cây đa bến nước sân đình…Nhưng trong thực tế từ xa xưa cho đến bây giờ nông dân vẫn thực hiện những cuộc di dân tìm miền đất mới. Họ ra đi mong thoát cảnh đói nghèo u mê trì trệ tìm câu trả lời cho số phận nhưng thôi thúc từ trong sâu thẳm là khát vọng sống khát vọng làm người. Nhân vật Hoan  thầy giáo làng xuất thân từ nông dân đã chỉ ra căn nguyên sâu xa của cảnh đời lưu lạc: “Làm ruộng…một thứ lao động truyền đời bán lưng cho trời bán mặt cho đất. Không. Tôi không nói đến cái gian khổ…tôi nói đến sự tù túng quẫn bách của thói nhà nông” (trang 25). Thì ra không phải nỗi khổ thể chất mà chính là nỗi đau tinh thần đã dồn đuổi con người quăng quật xô đẩy trong dòng đời biến động bất trắc và vô tận.

            Hoàng Đình Quang viết về làng Sơn Cốt quê hương ông một vùng quê mang đậm đặc trưng nông thôn Bắc bộ như nhà văn thừa nhận là có đủ hạng người: gã ngốc kẻ ăn mày người anh hùng ông đồ giáo sư …Và trong bối cảnh giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ cùng với sự thâm căn của cơ chế quan liêu bao cấp.

            Cũng như bao tiểu thuyết hiện đại viết về nông thôn khác “Cánh đồng lưu lạc” đề cập đến cái đói miếng ăn sự lạc hậu tối tăm tha hóa. Ám ảnh  người đọc bởi những ngôi nhà “vách đất mưa gió bào đến trơ mòn”; những năm đói kém cả làng thèm thịt mỡ người nhà quê thường giễu là “tí mũi”; những cậu bé tuổi ăn tuổi lớn ra đồng với ba củ khoai đói quá nằm dưới gốc sim mà khóc. Sự thiếu thốn khan hiếm vật chất và chế độ phân phối khiến người ta ao ước nâng niu từng đôi pin cân đường…

            Đó là cái phông hiện thực vừa ảm đạm vừa hài hước theo cách nhìn của Hoàng Đình Quang nhưng ông không khai thác sâu cái phông đó như nhiều tiểu thuyết viết về nông thôn từng làm. Cảm hứng sáng tạo của Hoàng Đình Quang hướng đến một “chiều kích” khác với một lối đi riêng rất âm thầm ráo riết là khám phá thế giới tinh thần của những con người có gốc gác nông dân thông qua bi kịch thân phận của họ.

            Hơn 30 nhân vật trong tiểu thuyết được nhà văn dựng lên trong mối quan hệ gắn kết nhưng có đời sống riêng sâu sắc vận động trong cái không gian thời gian nghệ thuật khá tiêu biểu. Ngoài cuộc lưu lạc khởi thủy vùng đất cuốn tiểu thuyết tập trung mô tả những cuộc lưu lạc của bốn nhân vật bươn trải trong hiện thực khắc nghiệt với những dằn vặt tinh thần nhưng không hiếm những khoảnh khắc bay bổng lãng mạn.

Nga nhân vật chính con thầy giáo Hoan vừa lọt lòng đã mồ côi mẹ gánh chịu một định mệnh nghiệt ngã. Mẹ Nga bị chính cha mình giết chết vì đã không nghe theo sự ép duyên của cha mà đem lòng yêu và lấy thầy Hoan. Là nạn nhân của hủ tục “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” bố con Nga phải lưu lạc đến ở đậu làng Sơn Cốt chạy trốn một quá khứ “thấm đẫm máu và nước mắt” để rồi Nga sẽ lại tiếp nối cuộc lưu lạc từ trong “tiền kiếp”. Nga học trung cấp Sư phạm trở thành cô giáo trường làng. Nga lấy Kỳ rồi Kỳ đi bộ đội chị phải nghỉ dạy về phụng dưỡng bố mẹ chồng. Nông thôn vốn là môi trường điển hình bảo lưu tư tưởng phụ hệ trọng nam khinh nữ. Ông Tuân bố chồng Nga chỉ có người con trai duy nhất là Kỳ chưa kịp có con thì Kỳ đã hy sinh vợ ông lại đau ốm liệt giường. Mê muội quay cuồng trong nỗi đau tuyệt tự không người nối dõi tông đường ông Tuân đã phạm tội loạn luân với con dâu. Dù Nga đã cự tuyệt đã đứng trên bờ đức hạnh nhưng Phận đàn bà mỏng manh và lòng thương hại đã xui khiến Nga: “nắm lấy bàn tay ông Tuân kéo sát ghì chặt vào ngực giọng lạnh băng: Đây! Làm gì thì làm”. Nga sinh ra thằng Hận giọt máu của bố chồng. Bị mẹ chồng các cô em chồng nguyền rủa là “gà cỏ” “quân ngứa nghề” “đồ đĩ rạc” gia đình không còn là nơi trú ngụ làng Sơn Cốt cũng không dung tha Nga phải ra đi chạy trốn quá khứ nhục nhã ê chề mong đổi đời cho thằng Hận và “nung nấu ý chí băng qua vượt lên chính cuộc đời mình”. Trong những đoạn trường có lúc tưởng như mẹ con chị sẽ bị cuốn vào vòng xoáy vô tăm tích nhưng chính cái đẹp của bản ngã trong Nga đã cứu vớt đưa dẫn chị nương tựa vào lòng tốt của người đời. Ông Thuần cùng đoàn san tràng và chiếc mảng đã đưa mẹ con Nga rời Soi Vạt một bãi đất bồi bên bờ sông hoang vắng đi đến nơi mà Nga chưa hề định trước. Ông Thức cửa hàng trưởng cửa hàng ăn uống thời bao cấp với tình thương trong sáng đã cưu mang mẹ con Nga trong lúc bơ vơ gạt bỏ chuyện lý lịch hộ khẩu nhận chị vào việc nắm than quả bàng và cho ở tại cửa hàng. Cuộc sống của Nga tạm yên ổn có miếng ăn có mái nhà che mưa nắng nhưng tâm hồn giằng xé thương cha già cô đơn hiu hắt nơi quê nhà hận ông lão Tuân đã “giết chết tuổi thanh xuân” của mình. Niềm hy vọng duy nhất là đứa con cũng biến thành nỗi đắng cay khi Nga nhận thấy thằng Hận ngớ ngẩn mắc chứng tâm thần sau lần chết đuối hụt. Đó là một đòn giáng mạnh vào số phận đến nỗi Nga tin rằng “trời xanh đã nổi giận chuyện loạn luân giữa bố chồng và nàng dâu”.

Ba nhân vật khác xoay quanh và có vai trò thúc đẩy sự vận động phát triển hình tượng nhân vật Nga là ông Tuân Tĩnh và Tôi (người kể chuyện). Cả ba nhân vật này đều thực hiện hành trình đi tìm Nga xuất phát từ những lý do và mục đích riêng nhưng cùng thôi thúc bởi lương tâm tình yêu và khát vọng nhân văn.

Ông Tuân là tuýp nhân vật được đặt trong mối quan hệ bố chồng - nàng dâu. Tuýp nhân vật này vẫn thường thấy trong tác phẩm văn học viết về chiến tranh. Nhưng trong “Cánh đồng lưu lạc” Hoàng Đình Quang đã đưa ra cách giải quyết hợp tình hợp lý bất ngờ độc đáo đạt hiệu quả thẩm mỹ; khiến từ chỗ là nhân vật thuộc tuyến “phản diện” ông Tuân trở thành nhân vật “trung tính” có thể thông cảm và tha thứ vì suy cho cùng đó là hệ lụy từ chiến tranh. Qua cái cách ông Tuân tạ tội với Thầy Hoan bố của Nga đủ biết ông đã đấu tranh nội tâm dữ dội đã thành thật sám hối và dũng cảm nhận trách nhiệm. Ông dâng lễ lên bàn thờ nhà thầy Hoan thắp hương khấn vái rồi chắp tay cung kính trước thầy Hoan: “Thưa ông…xin ông ngồi lên cho con…vâng cho con xin lạy ông…Con là Trần Tuấn Tuân. Con đã làm một điều vô luân vô đạo. Xin thầy tha lỗi cho con được nhờ. Thằng Hận con cô Nga không phải là đứa con hoang cô Nga không phải là người đàn bà hư hỏng như người ta vẫn đồn đại. Thằng Hận chính là giọt máu của con…”(trang 177) rồi ông đứng trơ ra đón nhận cơn giận dữ của thầy Hoan như ông đã tiên liệu. Tính cách nhân vật ông Tuân được phát triển về hướng thiện khi ông quyết đình rời làng Sơn Cốt lang thang khắp nơi khổ sở như một gã ăn mày đi tìm mẹ con Nga tự dày vò bằng những cuộc độc thoại nội tâm không dứt: “Bây giờ giữa thiên hạ này ta là chồng cô là vợ thằng Hận là con trai của ta. Nó nối dõi dòng họ Trần ta. Nó là thằng chống gậy đưa ta xuống mồ.”(trang 294). Nỗi đau đớn khiến ông thốt lên tiếng gọi nghẹn ngào tha thiết và bất lực “Về đi Nga ơi! Về làng có nhà có ruộng cho con chúng ta”. Thông qua nhân vật ông Tuân nhà văn đã lý giải sâu sắc bi kịch tinh thần truyền kiếp không thể giải thoát được của người nông dân.

Nhân vật Tĩnh xuất hiện ở gần cuối tác phẩm nhưng lại là điểm nhấn rất quan trọng trong hệ thống nhân vật. Nhà văn để cho tính cách của Tĩnh được bộc lộ trong những hoàn cảnh ngặt nghèo đầy thử thách nhằm tô đậm vẻ đẹp của một nhân cách giữa đời thường. Là bộ đội xuất ngũ Tĩnh theo nghề đi rừng. Trong đoàn san tràng Tĩnh nổi bật như một “chiến binh sông nước”. Anh được ông trưởng tràng tin cậy giao cho cây sào bột điều khiển con mảng bất kham vượt qua thác hiểm. Bởi “ai được giao cầm cây sào bột phải là người can trường và có sức lực... là người đứng mũi chịu sào”. Hành động của Tĩnh đầy nghĩa hiệp khi anh quên mình nhảy xuống dòng sông hung dữ cứu thằng Hận khỏi chết đuối. Đó là những phẩm chất trội mang đặc tính đàn ông làm nên sức hấp dẫn của nhân vật. Tĩnh có tâm hồn nhân ái giàu linh cảm. Anh nhận ra vẻ đẹp của Nga phía sau cái bề ngoài lam lũ: “Tĩnh sững người nhìn người đàn bà xa lạ nghèo khó mà anh mới quen trước đây vài giờ mà bỗng cảm thấy thân thuộc từ tận cõi nào xa thẳm” (trang 201). Anh đã giúp mẹ con Nga lên tàu đi Phú Thọ đã nảy nở một tình yêu thầm lặng để rồi tìm kiếm chị suốt hàng chục năm trời với sự theo đuổi kiên tâm và đạt đến tình yêu đích thực sau những đổ vỡ trải nghiệm về hạnh phúc.  

Nhân vật Tôi (còn có tên là Hoàng) xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm có vai trò như nhân vật chính thứ hai song song với nhân vật Nga. Mối tình chị em của Hoàng đối với Nga bền bỉ thiêng liêng sâu nặng theo năm tháng. Hoàng hướng về Nga như hướng về thần tượng. Mối tình dị biệt này mang chứa ẩn ức tuổi thơ và khát vọng vượt thoát khỏi lũy tre làng vươn tới một thế giới tinh thần cao quý. Đây chính là “hồn cốt” của cuốn tiểu thuyết là điểm tựa cho nhà văn thăng hoa say đắm trong ý tưởng nghệ thuật làm nên sức chinh phục mạnh mẽ người đọc. Ngòi bút của nhà văn luôn nâng niu trân trọng khi viết về Nga: “Mái tóc đen dài…tỏa mùi hương dịu ngọt rất lạ lùng…Chiếc áo trắng chị mặc nhuộm đẫm màu biếc của trăng non”…Tôi vùi sâu mái tóc khét nắng của mình vào lòng chị Nga. Trái tim tôi dần dần nóng lên một cách khó hiểu…Tôi nói mà nghe thấy tiếng nói của mình như giấu kín trong tà áo chị Nga: - Chị em mình mãi mãi bên nhau nhé”  (Trang 34). Vẻ đẹp huyền ảo ấy được Hoàng nhận biết bằng nỗi đam mê vô thức và thốt lên câu hỏi :“Chị ơi! Sao người ta không thể làm chủ số phận của mình được nhỉ?”. Đó cũng là câu hỏi muôn thuở của kiếp người. Tuổi thơ “đi theo đít con trâu” gánh phân đè nặng trên vai Hoàng mơ ước được học trung cấp Sư phạm trở thành giáo viên như chị Nga. Dù trí thức xã bấy giờ “cày ruộng gieo mạ phát bờ còn tinh thông hơn cả cầm phấn viết bảng” Nga vẫn hiện thân như một “biểu tượng” văn hóa một điểm sáng của hồn quê. Vì thế thực chất tình yêu của cậu bé Hoàng đối với Nga là sự “phải lòng” cái đẹp. Hoàng học Sư phạm rồi Hoàng ra trận mang theo mối tình đơn phương đầu đời như một nỗi ám ảnh về cái đẹp. Chiến tranh kết thúc Hoàng mải miết tìm Nga nhưng thật trớ trêu họ vẫn rẽ về hai nẻo. Phải 27 năm sau họ mới gặp nhau tại Sài Gòn khi số phận mỗi người đã an bài. Hoàng đã giúp Nga tìm được mộ chồng. Sau lời khấn của Hoàng trước mộ Kỳ điều kỳ diệu đã đến thằng Hận bỗng nhiên cười ha ha. Tiếng cười báo hiệu sự lột xác nó thoát khỏi hình hài ngớ ngẩn tâm thần trở thành người đàn ông thực sự. Chi tiết này cùng với sự vẹn tròn của số phận các nhân vật làm nên kết thúc có hậu của tiểu thuyết.

Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Hoàng Đình Quang kể cả những nhân vật chỉ xuất hiện thoáng qua hoặc không có sự phát triển tính cách (nhân vật tự biến mất) đều là những con người hướng thiện tốt đẹp thánh thiện hoặc có những khoảnh khắc đẹp. Điều này bộc lộ cảm quan nghệ thuật của nhà văn là tập trung khai thác phần nhân bản ở con người.

Ngay trang đầu tiểu thuyết Hoàng Đình Quang viết: “Làng Sơn Cốt là của tôi nơi ông tôi đến đây cư ngụ lần lượt cha tôi rồi tôi cũng được sinh ra”. Đây là chỉ dẫn về chủ thể sáng tạo – nhà văn mang huyết thống nông dân con đẻ của ruộng đồng viết về chính cái làng của mình về số phận những con người mình từng chứng kiến. Điều này là cơ sở để người tiếp nhận tin cậy vào văn bản nghệ thuật. Nhưng quyền năng tự sự của chủ thể sáng tạo càng được gia tăng hơn nữa khi nhà văn đồng thời là nhân vật “Tôi” tham gia suốt quá trình triển khai tác phẩm. Không chỉ đóng vai trò nhân chứng nhân vật “Tôi” xác lập mối quan hệ mật thiết giữa người kể chuyện với các nhân vật. Từ điểm nhìn bên trong nhà văn thâm nhập vào thế giới nội tâm khám phá giải mã những tầng sâu tinh tế và uẩn khúc của tâm hồn con người.

Với phương thức trần thuật ở ngôi thứ nhất dấu ấn cá nhân nhà văn in đậm vào tác phẩm một cách chân thực và cảm động. Hồi ức là màu chủ đạo của giọng trần thuật trong tiểu thuyết. Lối kể chuyện đan xen quá khứ hiện tại một cách linh hoạt phá dỡ trật tự thời gian tuyến tính giọng văn khi nhẩn nha khi dồn nén tuôn trào gây bất ngờ tạo được nhiều cung bậc cảm xúc cho người đọc.

Có thể nói Hoàng Đình Quang đã viết “Cánh đồng lưu lạc” bằng tất cả sự trải nghiệm và tình yêu sâu nặng với làng quê. Cuộc lưu lạc trở về với ký ức tìm kiếm chưng cất cái đẹp là một cuộc thanh lọc tâm hồn; khẳng định cái đẹp luôn chi phối và chiếm lĩnh con người. Đó là bản chất của chủ nghĩa nhân văn.

 

Nha Trang tháng 03 năm 2011

 

Bài đã đăng Báo Văn nghệ Hội Nhà văn VN số 16 ngày 16 tháng 04 năm 2011

 

 

 

 

More...

BIỂN THẦM - thơ Lê Khánh Mai

By Lê Khánh Mai

BIỂN THẦM


LÊ KHÁNH MAI

 

Những con sóng không nơi khởi đầu không hồi kết thúc

dồn đuổi nhau đầy ắp biển ngoài kia

tự vỡ mình ra tự thu về nguyên vẹn

ta biết lắm biển ơi người chẳng đau khổ bao giờ

 

Những gươm đá dựng bên ghềnh sắc lạnh

con sóng rơi đầu con sóng lại chồm lên

chai lỳ những vết thương chai lỳ muôn khát vọng

có phải vĩnh hằng kia làm biển vô tình

 

Giữa biển thầm mặt đất

ta con sóng buồn luôn tự vỡ mình ra 

bao nhiêu khởi đầu bấy nhiêu kết thúc

những mảnh hồn chắp mãi chẳng vẹn nguyên

 

More...

CHIẾC LÁ - thơ Lê Khánh Mai

By Lê Khánh Mai

CHIẾC LÁ


LÊ KHÁNH MAI


Có ban mai tôi như người ốm dậy

ngập lụt nỗi buồn gầy guộc niềm vui

hồn vắng thênh như nhà hoang trống trải

mây ngang qua gom gió về trời

 

Tôi tập tễnh ra ngoài hiên nắng

tiếng chim kêu lạ lẫm tả tơi

bên giậu thưa bướm vật vờ cánh mỏng

sẽ sàng - một chiếc lá xanh rơi

 

More...

CHÙM THƠ VỀ HÀ NỘI - Lê Khánh Mai

By Lê Khánh Mai

Chùm thơ về Hà Nội

 

LÊ KHÁNH MAI

 

CHIỀU XANH

 

Ai bỏ quên thảm cỏ xanh

ven Hồ Tây giữa đô thành cuối đông

sương choàng lụa mỏng thinh không

hồ xanh xanh đến thật lòng mà đau

 

Trái tim xanh hóa rong rêu

lại như chuông gióng vào chiều đẫm xanh

 

 

TÌM LẠI

 

Tuổi thơ tôi ở lại nơi này

Những năm tháng buồn vui Hà Nội

Đi xa  rồi nửa đời ngoảnh lại

Chợt bắt gặp Hà Nội tinh khôi

 

Kỷ niệm dội về đau nhói

Mối tình tuổi mười lăm

Một ánh chớp bất ngờ và lặng câm

Bầu trời tuổi thơ òa vỡ

Bao dung vòm cây dịu dàng mái phố

Những con đường lạ lạ quen quen

Đâu rồi tuổi thơ tôi mải miết đi tìm

Như kẻ đánh mất vàng giữa sông sâu lặn lội

Cỏ Hồ Tây phủ xanh đầy mọi lối

Những khu nhà lan mãi ra ngoại ô

 

Tôi tìm lại mình hai mươi năm xưa

Cô gái tóc ngang vai mắt buồn loáng ướt

Ngã tư cơn mưa chiều bất chợt

Buổi tan trường đếm giọt giọt nước rơi

Tuổi thơ đánh mất rồi có thể nào lấy lại

Tôi cứ đi tìm tuổi thơ thì trốn chạy

Nên một mình giữa hoang vắng bơ vơ

 

Xin trả bằng mọi giá để gặp lại tuổi thơ

Dẫu chỉ một lần

Ơi Hà Nội.

 

 

 

HÀ NỘI MÙA ĐÔNG ĐẦU THẾ KỶ

 

Nhốt quả tim mười sáu trong người đàn bà từng trải

tôi một mình làm cả mùa đông

đổ về tôi hàng triệu năm giá buốt

 

Hà Nội trong tiền kiếp của tôi

ám ảnh đêm dài cơn mơ chăn nệm

căn nhà tập thể chín mét vuông

tôi chen nhau với sách vở bếp dầu chai lọ

Mẹ tôi gương mặt mùa đông góa bụa

Thức dậy bốn giờ sáng ra đi hun hút gió đón chuyến xe đầu ngày

Cà mèn cơm rau muống đậu phụ bữa trưa công sở

 

Tuổi thơ tôi côi cút co ro

quẩn quanh tem phiếu thực phẩm

còi báo động báo yên cắt vụn ước mơ

dày vò kỷ niệm

bạn bè ơi phương trời lưu lạc

kem Bốn Mùa* còn nhức tận chân răng

thời thiếu nữ qua nhanh như chưa từng thiếu nữ

giấu mơn mởn thịt da trong tấm áo xuềnh xoàng

nhớ điên cuồng người tình đầu đời khung ngực rộng

bàn tay đằm cá tính miền Trung

mười ngón tự tin như xương rồng vượt lên đất khát

in dấu quê hương bật máu đường cày

viết những câu thơ sinh viên lửa cháy

gieo đầm đìa cung đàn âm thanh

rồi cầm súng đi vào cuộc chiến tranh

chưa một lần cảm nhận mịn màng eo lưng con gái

đã người kiếp trước thiên thu

 

Hà Nội mùa đông đầu thế kỷ

bờ ngực tôi con đê sắp vỡ

run rẩy lo âu linh cảm đợi chờ

Người tình ơi có về trong gió trong mưa

 

tôi khát những ngón tay và khung ngực rộng

Hà Nội đã tái sinh sao người không sống lại

tôi biết cất vào đâu quả tim mười sáu tuổi.

                             Hà Nội mùa đông 2001

----------------------------------

*Hiệu kem ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm.

 

More...

NỬA ĐỜI VƯỚNG PHẢI BÙA YÊU

By Lê Khánh Mai

NỬA ĐỜI VƯỚNG PHẢI BÙA YÊU

 

Nhà thơ NGUYỄN ANH THUẤN bình thơ LÊ KHÁNH MAI

 

Nhà thơ Lê Khánh Mai Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Khánh Hòa trong chuyến đi thực tế miền Bắc vừa qua có ghé thăm anh chị em văn nghệ sĩ tỉnh Bắc Ninh. Nữ sĩ của vùng biển Nha Trang này có tặng chúng tôi tập thơ thứ 6 của chị: “Giấc mơ hái từ cơn giông”.

 

Tập thơ dày trên 300 trang in rất đẹp và trang trọng. Thơ Lê Khánh Mai tràn đầy những nỗi khát khao những khắc khoải khôn nguôi những ám ảnh đến từ nhiều phía. Một bản lĩnh thơ vừa tỉnh táo quyết liệt vừa dồn nén đam mê mà không phải cây bút nữ nào cũng có được. Trong những đề tài lớn mà Lê Khánh Mai quan tâm tôi đặc biệt yêu thích mảng thơ chị viết về thân phận con người về những khát khao vươn tới sự hoàn thiện ngay trong những khoảnh khắc rất khó lý giải của tình yêu:

 

Giây phút tình cờ

 

Trời cho giây phút tình cờ

Sóng từ muôn kiếp xô bờ trong em

Tình như núi chợt dâng lên

Ngàn năm giấu lửa để nhen một chiều

 

Nửa đời vướng phải bùa yêu

Nhận thì mất trả cho chiều thì đau!

 

Lê Khánh Mai

(Rút trong tập: “Giấc mơ hái từ cơn giông”)

 

Một bài thơ tình có 6 câu với 42 chữ viết theo thể thơ lục bát truyền thống nhưng lại hàm chứa trong đó cả một không gian tình ái vô bờ. Đủ cả Trời và Biển. Đủ cả Núi và Lửa và Sóng. Còn thời gian trong thơ thì từ: một chiều đến ngàn năm và muôn kiếp. Trong cái bao la vĩnh hằng của không gian và thời gian ấy một giây phút tình cờ vô cùng ngắn ngủi kia vì sao có thể làm Em nghiêng ngả?

 

Giây phút tình cờ trong bài thơ này không phải là một thứ tình yêu sét đánh. Giây phút này thiêng liêng và thánh thiện nó là báu vật của Trời: Trời cho giây phút tình cờ. Chính vì thế giây phút này có nguồn năng lượng cực lớn có thể làm biển nổi sóng núi dâng lên như trong thần thoại:

 

Sóng từ muôn kiếp xô bờ trong em

Tình như núi chợt dâng lên…

 

Và ngọn lửa ẩn giấu từ ngàn năm cũng phải bùng cháy…

 

Với những ẩn dụ ấy diễn tả tâm trạng nhân vật trữ tình Em sau giây phút sét đánh kia Lê Khánh Mai đúng là một nữ sĩ tài hoa. Tuy hình tượng thơ không mới chữ nghĩa không lạ nhưng tác giả đã thổi hồn mình vào đó khiến những câu thơ như có bùa mê thấm đẫm yêu thương và nỗi khát khao đầy giới tính.

 

Nhưng cái hay của bài thơ này lại nằm ở hai câu kết hay nói chính xác hơn là nằm ở câu thơ cuối cùng:

 

Nửa đời vướng phải bùa yêu

Nhận thì mất trả cho chiều thì đau.

 

Nhân vật trữ tình Em một người đàn bà đã đứng tuổi sau giây phút trời cho nhận ra mình đã “Vướng phải bùa yêu”. Mà vướng không nhẹ một chút nào. Lửa tình bùng cháy trong tim. Bão gió đầy lòng. Nỗi khát khao tưởng không gì kìm nén nổi… Đáng sợ thay là lá bùa yêu! Ca dao xưa đã từng viết: “Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư/ ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu…”

 

Tất nhiên vướng phải bùa yêu chỉ là một cách nói. Tiếng sét ái tình vang dội vào lúc xế trưa nó vừa cảnh báo vừa soi sáng một nghịch lý một mâu thuẫn không dễ giải quyết: “Nhận thì mất trả cho chiều thì đau!”. Nhắm mắt đi theo tiếng gọi của ái tình chấp nhận nó thì sẽ phải mất đi nhiều thứ khác trong đó sợ nhất là đánh mất mình. Nhưng từ chối nó trả lại cho chiều trả lại cho thời gian buông trôi thì quá đau lòng. Sự giằng xé giữa nhận và trả giữa sự tỉnh táo đầy ý thức với nỗi đam mê vô thức đã làm nên vẻ đẹp và giá trị của câu thơ này. Nói đúng hơn nó chính là vẻ đẹp của sự phức tạp đầy uẩn ức của tâm hồn con người. Nhân đây cũng xin nói thêm rằng trong tình yêu không nên quá rạch ròi về cho và nhận về được và mất về vay và trả. Tình yêu dù ở tuổi nào muôn kiếp muôn đời vẫn là hạnh phúc và đau khổ cay đắng và ngọt ngào thiên đường và địa ngục… Nếu không tin xin bạn hãy thử yêu hết mình mà xem…

 

Nguyễn Anh Thuấn

(Nguồn: Báo Bắc Ninh)

 

More...

DỊ BẢN

By Lê Khánh Mai

Khát vị ngọt ngào mà em uống đắng

Yêu đến nát lòng vẫn chua chát đầu môi

Cười chốn đông người

Khóc cùng đêm vắng

một mình giằng xé tự phân đôi

Em như con tàu lao ra biển rộng

Lại neo về bến cảng giữa trùng khơi

Phận Dã tràng đánh mất rồi ngọc báu

Cứ loay hoay tìm kiếm một đời

 

Em muốn xóa bóng mình - Dị bản

Để chỉ còn đích thực em thôi

 

More...